
93
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
biệt là trầm cảm, lo âu và stress [7],[8]. Nghiên cứu
trên 2642 sinh viên ở các trường Y khoa ở Mỹ, Dybye
và cs (2012) cho thấy tỷ lệ sinh viên có ý định tự tử
dao động từ 9,1% đến 48,2% [7]. Một nghiên cứu
khác tại Khoa Y, Đại học Quốc tế Malaysia sử dụng
thang đo DASS-21 cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu,
stress ở sinh viên Y khoa tương ứng là 64,4%, 84,5%
và 56,7% [4]. Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu về
sức khỏe tâm thần ở sinh viên Y khoa trên 8 trường
đại học Y-Dược toàn quốc năm 2013 của Trần Quỳnh
Anh cho thấy có 43% sinh viên có dấu hiệu trầm
cảm; trong đó, có 23% trầm cảm nhẹ và 20% trầm
cảm nặng; đặc biệt có 8,7% sinh viên có ý định tự tử
[13]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng (2014) ở 382
sinh viên Y khoa cho thấy có khoảng 58,4% có dấu
hiệu trầm cảm, 70,4% có dấu hiệu lo âu và khoảng
56,3% sinh viên có dấu hiệu stress theo thang đo
DASS-21 [3]. Trầm cảm, lo âu và stress có thể gây
hậu quả nghiêm trọng cho sinh viên Y khoa như suy
giảm động lực học tập; hạn chế khả năng tư duy
và thực hành lâm sàng; tăng nguy cơ bỏ học hoặc
ngừng học và có thể dẫn đến các hậu quả về sức
khỏe thể chất và xã hội. Trầm cảm nặng có thể dẫn
đến hành vi lạm dụng rượu, các chất gây nghiện và
tự tử [3].
Hành vi m kiếm sự trợ giúp chuyên môn (help
seeking professional helps) là một kỹ năng vô cùng
quan trọng giúp sinh viên có thể m kiếm sự hỗ trợ
chuyên môn từ các chuyên gia y tế và tâm lý, giúp
sinh viên có thể đối phó tốt hơn với các khó khăn
trong học tập và cải thiện sức khỏe tâm thần của
mình. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề
sức khỏe tâm thần của sinh viên Y khoa nhưng lại
rất ít nghiên cứu đề cấp đến hành vi m kiếm sự
trợ giúp để đối phó với các vấn đề sức khỏe tâm
thần của sinh viên [11]. Đối với sinh viên Y khoa
thì năm thứ nhất là nhóm đối tượng có nguy cơ cao
nhất đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Nguyên
nhân là do các em chưa thích nghi được với môi
trường mới, bản thân các em chưa đủ kinh nghiệm
và tự n đối phó với các yếu tố gây stress để có thể
tự vượt qua những khó khăn cũng như việc m đến
một nguồn trợ giúp phù hợp. Hậu quả là sinh viên
thường chịu đựng stress kéo dài, chậm trễ trong
việc ếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm
thần làm cho trạng thái sức khỏe tâm thần, thể chất
và xã hội trở nên xấu hơn. Công văn số 1346 ngày
23/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ rõ: các cơ sở giáo dục cần tăng cường thực
hiện hiệu quả công tác tư vấn tâm lý học đường để
giúp sinh viên có được môi trường tâm lý, xã hội tốt
hơn giúp tối đa hóa kết quả học tập [1]. Xuất phát từ
thực tế trên, chúng tôi ến hành đề tài “Nghiên cứu
hành vi m kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề sức
khỏe tâm thần ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại
học Y Dược Huế” với 2 mục êu sau đây:
1.
Tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi m kiếm
sự trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần của
sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Huế.
2.
Xác định các yếu tố liên quan đến hành vi m
kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm
thần của sinh viên năm nhất Trường Đại học Y Dược
Huế.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang.
2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đối
tượng nghiên cứu gồm 1390 sinh viên năm thứ nhất
năm học 2017 - 2018 của 09 ngành đào tạo hệ chính
quy tại Trường Đại học Y Dược Huế: Y khoa, Răng
Hàm Mặt, Y học dự phòng, Y học cổ truyền, Dược
học, Kỹ thuật xét nghiệm, Kỹ thuật hình ảnh, Điều
dưỡng và Y tế công cộng. Chúng tôi sử dụng phương
pháp nh cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ hành vi m kiếm
sự trợ giúp tham chiếu kết quả nghiên cứu của Võ
Nữ Hồng Đức (2016) ở sinh viên Y học dự phòng
(2016) [2]. Cỡ mẫu nh được là 527 sinh viên. Sử
dụng phương pháp chọn mẫu tầng tỷ lệ nhiều giai
đoạn và lấy thêm 10% dự phòng. Cỡ mẫu nghiên
cứu này là 671 sinh viên.
2.3. Công cụ nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng Thang
đo trầm cảm, lo âu và stress 21 mục hỏi (DASS-21)
của Lovibond và cs (1995) [12] và Thang đo thái độ
m kiếm sự trợ giúp chuyên môn (Atude Towards
Seeking Professional Psychological Helps – ATSPPH)
của Allyn và cs (1995) [5]. Cả hai thang đo này đã
được dịch và đánh giá độ n cậy, độ nhạy và độ đặc
hiệu đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Huế.
2.4. Phân ch thống kê
Số liệu được phân ch bằng phần mềm SPSS
22.0. Sử dụng bảng phân phối tần suất (n), tỷ lệ phần
trăm (%), giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn
(SD) để mô tả số liệu và hồi quy đa biến logisc để
phân ch các yếu tố liên quan đến hành vi m kiếm
sự trợ giúp.