92
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
HÀNH VI TÌM KIẾM SỰ TRỢ GIÚP ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ
SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Nguyễn Văn Hùng, Hoàng Thị Hương Lan
Khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tìm kiếm sự trợ giúp là kỹ năng cốt yếu giúp sinh viên đối phó tốt với các yếu tố nguy cơ
cải thiện sức khỏe tâm thần cho bản thân. Tuy nhiên, hiện có rất ít các nghiên cứu về vấn đề này ở sinh viên
Y khoa. Mục êu: 1. Tìm hiểu hành vi m kiếm sự trgiúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần của sinh
viên năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Huế và 2. Xác định các yếu tố liên quan đến hành vi m kiếm sự
trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần ở đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu: Nghiên cứu tả cắt ngang trên 671 sinh viên năm thứ nhất hệ chính quy sử dụng Thang đo mức độ
trầm cảm, lo âu và stress của Lovibond (1995) và Thang đo thái độ đối với m kiếm sự trợ giúp (ATSPPH) của
Allyn (1995). Kết quả: Độ tuổi trung bình là 18,8 ± 0,8. Có 56% sinh viên chưa từng nghe đến m kiếm sự trợ
giúp; 79% hiểu biết chưa đúng và chỉ có 2,4% sẵn sàng m kiếm sự trợ giúp khi có dấu hiệu trầm cảm, lo âu
hoặc stress quá mức; 14% thường xuyên m kiếm sự trợ giúp chủ yếu là từ cha mẹ hoặc bạn thân. Tỷ lệ m
kiếm sự trợ giúp từ chuyên gia y tế hoặc chuyên gia tâm lý chỉ chiếm khoảng 12%. Kết luận: Kỹ năng m kiếm
sự trợ giúp sinh viên Y khoa năm thứ nhất là rất thấp trong khi tỷ lệ trầm cảm, lo âu stress lại khá cao.
Truyền thông và trang bị kỹ năng m kiếm sự trợ giúp cho sinh viên năm thứ nhất là giải pháp rất quan trọng
nhằm giúp sinh viên cải thiện nh trạng sức khỏe tâm thần.
Từ khóa: Tìm kiếm sự trợ giúp; trầm cảm, lo âu, stress; sinh viên Y khoa
Abstract
HELP SEEKING BEHAVIORS FOR MENTAL HEALTH PROBLEMS
AMONG FIRST YEAR MEDICAL STUDENTS
Nguyen Van Hung, Hoang Thi Huong Lan
Faculty of Public Health, Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University
Introducon: Help seeking behavior is an integral skill that helps students to improve their mental
well-being. However, lile evidence on this issue has been known among rst year Vietnamese medical
students. Objecves: To provide understandings on help seeking behaviors among medical students; and
To idenfy factors associated with help seeking behaviors among rst year medical students. Methods: A
cross-seconal study was carried out on 671 rst year medical students at Hue University of Medicine and
Pharmacy. Depression, Anxiety and Stress scales 21 items (Lovibond, 1995) and Atude Towards Seeking
Professional Psychological Helps (Allyn, 1995) were used to collect data. Results: Mean of age was 18.8 ± 0.8.
There was 56% students had never ever heard about help seeking behaviors and 79% had mispercepon.
There was only 2.4% of students ready to seek professional helps when facing with depressive, stress or
anxious symptoms; 14% of students oen sought helps, mostly from their parents or friends. Whereas,
seeking medical or psychological helps for mental well-being accounted for only 12%. Conclusion: Seeking
professional help was low whereas a signicantly high prevalence of depression, anxiety, and stress was
found among freshman medical students. Health educaon on help seeking behavior could be a necessary
intervenon for improving mental well-being for rst year medical students.
Keywords: Help seeking behaviors, depression, anxiety, and stress scales; medical students
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Văn Hùng, email: nvhung@huemed-univ.edu.vn DOI: 10.34071/jmp/2019.4.13
Ngày nhận bài: 22/5/2019, Ngày đồng ý đăng: 2/6/2019; Ngày xuất bản: 1/7/2019
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe tâm thần sinh viên Y khoa vấn
đề thu hút sự quan m của cộng đồng hội
[6],[7],[8]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng,
sinh viên Y khoa là đối tượng có nguy cơ rất cao đối
với các vấn đề sức khỏe tâm thần so với sinh viên
các trường khác và trong cộng đồng nói chung, đặc
93
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
biệt trầm cảm, lo âu stress [7],[8]. Nghiên cứu
trên 2642 sinh viên các trường Y khoa Mỹ, Dybye
và cs (2012) cho thấy tỷ lệ sinh viên có ý định tự tử
dao động từ 9,1% đến 48,2% [7]. Một nghiên cứu
khác tại Khoa Y, Đại học Quốc tế Malaysia sử dụng
thang đo DASS-21 cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu,
stress ở sinh viên Y khoa tương ứng là 64,4%, 84,5%
56,7% [4]. Việt Nam, kết quả nghiên cứu về
sức khỏe tâm thần ở sinh viên Y khoa trên 8 trường
đại học Y-Dược toàn quốc năm 2013 của Trần Quỳnh
Anh cho thấy 43% sinh viên dấu hiệu trầm
cảm; trong đó, 23% trầm cảm nhẹ 20% trầm
cảm nặng; đặc biệt có 8,7% sinh viên có ý định tự tử
[13]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng (2014) 382
sinh viên Y khoa cho thấy khoảng 58,4% dấu
hiệu trầm cảm, 70,4% dấu hiệu lo âu và khoảng
56,3% sinh viên dấu hiệu stress theo thang đo
DASS-21 [3]. Trầm cảm, lo âu stress có thể y
hậu quả nghiêm trọng cho sinh viên Y khoa như suy
giảm động lực học tập; hạn chế khả năng duy
thực hành lâm sàng; tăng nguy bỏ học hoặc
ngừng học có thể dẫn đến các hậu quả vsức
khỏe thể chất hội. Trầm cảm nặng có thể dẫn
đến hành vi lạm dụng rượu, các chất gây nghiện
tự tử [3].
Hành vi m kiếm sự trgiúp chuyên môn (help
seeking professional helps) một kỹ năng vô cùng
quan trọng giúp sinh viên có thể m kiếm sự hỗ trợ
chuyên môn từ các chuyên gia y tế tâm , giúp
sinh viên thể đối phó tốt hơn với các khó khăn
trong học tập cải thiện sức khỏe tâm thần của
mình. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề
sức khỏe m thần của sinh viên Y khoa nhưng lại
rất ít nghiên cứu đề cấp đến hành vi m kiếm sự
trợ giúp để đối phó với các vấn đề sức khỏe tâm
thần của sinh vn [11]. Đối với sinh viên Y khoa
thì năm thứ nhất là nhóm đối tượng có nguy cơ cao
nhất đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Nguyên
nhân do các em chưa thích nghi được với môi
trường mới, bản thân các em chưa đủ kinh nghiệm
và tự n đối phó với các yếu tố y stress để có thể
tự vượt qua những khó khăn cũng như việc m đến
một nguồn trợ giúp phù hợp. Hậu quả sinh viên
thường chịu đựng stress kéo dài, chậm trễ trong
việc ếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm
thần làm cho trạng thái sức khỏe tâm thần, thể chất
hội trở nên xấu hơn. Công văn số 1346 ngày
23/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo
đã chỉ rõ: các sở giáo dục cần tăng cường thực
hiện hiệu quả công tác vấn tâm lý học đường để
giúp sinh viên có được môi trường tâm lý, xã hội tốt
hơn giúp tối đa hóa kết quả học tập [1]. Xuất phát từ
thực tế trên, chúng tôi ến hành đề tài “Nghiên cứu
hành vi m kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề sức
khỏe tâm thần ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại
học Y Dược Huế” với 2 mục êu sau đây:
1.
Tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi m kiếm
sự trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần của
sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Huế.
2.
Xác định các yếu tố liên quan đến hành vi m
kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe tâm
thần của sinh viên năm nhất Trường Đại học Y Dược
Huế.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tcắt
ngang.
2.2. Cỡ mẫu phương pháp chọn mẫu: Đối
tượng nghiên cứu gồm 1390 sinh viên năm thứ nhất
năm học 2017 - 2018 của 09 ngành đào tạo hệ chính
quy tại Trường Đại học Y Dược Huế: Y khoa, Răng
Hàm Mặt, Y học dự phòng, Y học cổ truyền, Dược
học, Kthuật xét nghiệm, Kthuật hình ảnh, Điều
dưỡng Y tế công cộng. Chúng tôi sử dụng phương
pháp nh cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ hành vi m kiếm
sự trợ giúp tham chiếu kết quả nghiên cứu của Võ
Nữ Hồng Đức (2016) sinh viên Y học dự phòng
(2016) [2]. Cỡ mẫu nh được 527 sinh viên. Sử
dụng phương pháp chọn mẫu tầng tỷ lệ nhiều giai
đoạn lấy thêm 10% dự phòng. Cỡ mẫu nghiên
cứu này là 671 sinh viên.
2.3. Công cụ nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng Thang
đo trầm cảm, lo âu stress 21 mục hỏi (DASS-21)
của Lovibond và cs (1995) [12] và Thang đo thái độ
m kiếm sự trợ giúp chuyên môn (Atude Towards
Seeking Professional Psychological Helps ATSPPH)
của Allyn cs (1995) [5]. Cả hai thang đo y đã
được dịch và đánh giá độ n cậy, độ nhạy và độ đặc
hiệu đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Huế.
2.4. Phân ch thống kê
Số liệu được phân ch bằng phần mềm SPSS
22.0. Sử dụng bảng phân phối tần suất (n), tỷ lệ phần
trăm (%), giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn
(SD) để tả số liệu và hồi quy đa biến logisc để
phân ch các yếu tố liên quan đến hành vi m kiếm
sự trợ giúp.
94
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
3. KẾT QU
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 671)
Đặc điểm n %
Tuổi (Mean ± SD) 18,9 ± 0,8
Giới
Nam
Nữ
206
405
30,7
69,3
Dân tộc
Dân tộc Kinh
Dân tộc thiểu số
630
41
93,9
6,1
Hoàn cảnh sống
Sống một mình
Sống với bạn bè
Sống với gia đình
254
302
115
37,8
45,0
17,2
Tình trạng tài chính
Thiếu
Vừa đủ
Đầy đủ
85
496
90
12,7
73,9
13,4
Trầm cảm
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
500
126
45
74,52
18,78
6,72
Lo âu
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
470
111
90
70,04
16,54
13,41
Stress
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
542
89
40
80,77
13,26
5,96
Nhận t: Tlệ trầm cảm, lo âu, stress mức độ vừa đến rất nặng chiếm khoảng ¼ đến 1/3 mẫu nghiên cứu.
Bảng 3.2. Kiến thức và thái độ đối với hành vi m kiếm sự trợ giúp (n = 671)
Kiến thức, thái độ về hành vi m kiếm sự trợ giúp n %
Kiến thức về hành vi m kiếm sự trợ giúp
Đúng
Chưa đúng
141
530
21,0
79,0
Thái độ hành vi m kiếm sự trợ giúp
Không cần thiết
Có nghĩ đến
Luôn sẵn sàng
351
304
16
52,31
45,31
2,38
Bảng 3.3. Thực hành m kiếm sự trợ giúp (n = 671)
Thực hành m kiếm sự trợ giúp
Không
n % n %
Trầm cảm
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
297
81
23
59,40
64,29
51,11
203
45
22
40,60
35,71
48,89
95
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
Lo âu
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
278
67
56
59,15
60,36
62,22
192
44
34
40,85
39,64
37,78
Stress
Không hoặc nhẹ
Vừa
Nặng và rất nặng
321
53
27
59,23
59,55
67,50
221
36
13
40,77
40,45
32,50
Nhận xét: Có khoảng 30%-40% sinh viên không m kiếm sự trợ giúp khi có những dấu hiệu trầm cảm, lo
âu và stress từ mức vừa đến nặng.
Bảng 3.4. Nguồn m kiếm sự trợ giúp khi có biểu hiện trầm cảm (n = 671)
Nguồn m kiếm sự trợ giúp
Hầu như không m kiếm Luôn luôn m kiếm
n % n %
Trầm cảm
Cha mẹ
Anh chị em ruột
Người thân
Bạn thân
Bác sĩ chuyên khoa tâm thần
BSĐK hoặc BSCK khác*
Các nhà tâm lý
Thầy cô BM TLYH**
123
140
284
79
352
362
354
346
30,7
34,9
70,8
19,7
87,8
90,3
88,3
86,3
287
261
117
322
49
39
47
55
69,3
65,1
29,2
80,3
12,2
9,7
11,7
13,7
Lo âu
Cha mẹ
Anh chị em ruột
Người thân
Bạn thân
Bác sĩ chuyên khoa tâm thần
BSĐK hoặc BSCK khác*
Các nhà tâm lý
Thầy cô BM TLYH**
120
138
262
108
358
363
361
357
29,9
34,4
65,3
26,9
89,3
90,5
90
89
281
263
139
293
43
38
40
44
70,1
65,6
34,7
73,1
10,7
9,5
10
11
Stress
Cha mẹ
Anh chị em ruột
Người thân
Bạn thân
Bác sĩ chuyên khoa tâm thần
BSĐK hoặc BSCK khác*
Các nhà tâm lý
Thầy cô BM TLYH**
143
145
284
117
354
367
358
358
35,7
36,2
70,8
29,2
88,3
91,5
89,3
89,3
258
256
117
284
47
34
43
43
64,3
63,8
29,2
70,8
11,7
8,5
10,7
10,7
*Bác sĩ đa khoa hoặc Bác sĩ chuyên khoa khác; **Bộ môn Tâm lý Y học
Bảng 3.5. Các yếu tố liên quan đến hành vi m kiếm sự trợ giúp (n=671)
Biến độc lập OR 95% CI
p
1. Hoàn cảnh sống
Sống một mình
Sống với gia đình, người thân
Sống cùng với bạn bè
1
0,761
0,885
-
0,499 - 1,162
0,584 - 1,340
-
0,206
0,563
96
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
2. Nhận thức về sự cần thiết
Chưa cần thiết
Cần thiết
1
1,808
-
1,176 - 2,780
-
0,007
3. Trầm cảm
Không
1
1,068
-
-0.114 - 0.083
-
0.757
4. Lo âu
Không
1
1,058
-
-0.104 - 0.083
-
0.780
5. Stress
Không
1
1,184
-
-0.158 - 0.071
-
0.498
Nhận xét: Sinh viên nhận thức được sự cần thiết
thì thực hành m kiếm sự trợ giúp cao gấp khoảng
2 lần so với nhóm còn lại (95%CI: 1,2-2,8; p=0,007).
4. BÀN LUẬN
4.1. Hành vi m kiếm sự trợ giúp
Tổ chức Y tế thế giới (2001) nêu rõ: sức khỏe tâm
thần không đơn thuần không bị mắc các rối loạn
tâm thần còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự
tự n vào năng lực bản thân, nh tự chủ, năng lực
khả năng nhận biết những ềm năng của bản
thân. Việc hiểu biết đúng và đầy đủ về sức khỏe tâm
thần cách thức đối phó yếu tvô cùng quan
trọng nhằm tăng cường sức khỏe tâm thần cho bản
thân. Kết quả tại bảng 3.2. cho thấy: Tỷ lệ sinh viên
hiểu biết đúng vhành vi m kiếm sự trợ giúp
đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần rất thấp, chỉ
chiếm khoảng 21%. Về thái độ, chỉ khoảng 2,5% sinh
viên luôn sẵn sàng m kiếm sự trợ giúp khi gặp các
khó khăn về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu
hoặc stress. Bảng 3.3 cũng cho thấy: chỉ khoảng
50% sinh viên khi những dấu hiệu về trầm cảm,
lo âu, hoặc stress vừa nặng m kiếm sự trợ
giúp. Điều đáng chú ý khoảng 60% trong số này
m kiếm sự trợ giúp từ các nguồn không chính thức
như cha mẹ, bạn bè hoặc người thân. Trong khi m
kiếm sự trgiúp từ các nguồn chính thức như bác
chuyên khoa, các nhà tâm , nhân viên y tế chỉ
chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 40%).
Đặc biệt, các vấn đề sức khỏe tâm thần sinh
viên Y khoa chủ yếu nguồn gốc từ các yếu tố
stress liên quan đến môi trường và áp lực học tập
[9],[10]. Tuy vậy, tỷ lệ sinh viên m kiếm sự tham
vấn của các thầy cô trong trường rất thấp (chỉ chiếm
khoảng 10 - 13%). Điều này cho thấy, hiểu biết
thái độ về hành vi m kiếm sự trợ giúp sinh viên
năm thứ nhất là rất thấp. Hiểu biết và thái độ là yếu
tố quan trọng quyết định việc sinh viên có thực hiện
hành vi m kiếm sự trgiúp mỗi khi gặp khó khăn
hoặc stress trong cuộc sống học tập. Điều này
thể thấy rằng, sinh viên năm thứ nhất mới vào
trường, ếp cận với môi trường học tập mới, áp lực
học tập cao nhiều khó khăn, trở ngại. Tuy nhiên,
sinh viên chưa được trang bị đầy đủ hành trang về
chăm sóc sức khỏe tâm thần cũng như trang bị kỹ
năng đối phó hiệu quả [11]. Do đó, nhận thức và thái
độ về sức khỏe tâm thần của sinh viên chưa tốt. Mặt
khác, văn hóa m kiếm sự hỗ trvề sức khỏe tâm
thần ở cộng đồng cũng còn nhiều yếu tố cản trở: sự
e ngại (sgma) đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần
còn lớn, sự hiểu biết nói chung về sức khỏe tâm thần
còn thiên lệch vcác rối loạn tâm thần, trong khi
các rối loạn tâm lý như trầm cảm, lo âu và stress thì
không được xem là sức khỏe tâm thần mà ngược lại
được xem những vấn đề bình thường của mỗi
nhân người khác không thể giải quyết được hoặc
không thể giúp được trong khi các bác chuyên
khoa tâm thần thì chưa cần thiết hoặc tâm lý e ngại.
Việc m đến tham vấn tâm cũng không phải
một cách ếp cận phổ biến đối với các vấn đề sức
khỏe tâm thần Việt Nam. Họ không biết phải m
kiếm dịch vụ tham vấn ở đâu, nghĩ rằng không quan
trọng [14]
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi m kiếm
sự hỗ trđối với các vấn đề sức khỏe tâm thần
sinh viên
Kết quả phân ch hồi quy Logisc bảng 3.5
cho thấy nhận thức về sực cần thiết là yếu tố có liên
quan ý nghĩa thống kê đối với việc thực hiện hành
vi m kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề sức khỏe
tâm thần sinh viên năm thứ nhất. Sinh viên nhận
thức được sự cần thiết thì thực hành m kiếm sự tr
giúp cao gấp 2 lần so với nhóm còn lại (OR=1,808;
95%CI: 1,176 2,78; p=0,007). Điều này cho thấy,
truyền thông nâng cao nhận thức, cung cấp thông
n đầy đủ về sức khỏe tâm thần, kỹ năng đối phó
m kiếm sự trợ giúp biện pháp cấp bách ý
nghĩa để cải thiện sức khỏe tâm thần cho sinh viên.
5. KẾT LUẬN
Tlệ sinh viên thực hành m kiếm sự trợ giúp
đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần rất thấp.
97
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 9, số 4 - tháng 7/2019
Yếu tố quan trọng và có ý nghĩa nhất ảnh hưởng đến
thực hành m kiếm sự trợ giúp đối với các vấn đề
sức khỏe tâm thần ở sinh viên sự thiếu hiểu biết
và sự cần thiết của sự trợ giúp. Cần tăng cường các
chương trình truyền thông, giáo dục sớm để giúp
sinh viên nhận thức đúng đắn về sức khỏe tâm thần,
kỹ năng đối phó và m kiếm sự trợ giúp chính thức,
hiệu quả. Mặt khác, cũng cần cung cấp đầy đủ thông
n về các nguồn m kiếm sự trợ giúp chính thức để
sinh viên biết và ếp cận khi cần thiết.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Công văn 1346/
BGD&ĐT-CTHSSV về Tăng cường biện pháp đảm bảo an
ninh trật trường học.
2. Võ Nữ Hồng Đức (2016), Nghiên cứu hành vi m
kiếm sự trợ giúp về chăm sóc sức khỏe tâm thần các
yếu tố liên quan ở sinh viên ngành bác sĩ Y học dự phòng
Trường Đại học Y Dược Huế”, Luận văn thạc sỹ, tr.2-71.
3. Nguyễn văn Hùng (2014), Nghiên cứu mối tương
quan giữa chiến lược học tập tự điều hành với chiến lược
đối phó với stress sức khỏe tâm thần sinh viên y
khoa,Viện NCSKCD Đại học Y Dược Huế.
4. Ali S. R., Ghasak G. F., Syed M. A., (2014).
Source of stressors and emoonal disturbances among
undergraduate Science students in Malaysia”, pp.402.
5. Allyn B., Fischer E., Farina A. (1995), Atudes
toward seeking psychological professional help: A
shortened form and consideraons for research”, Journal
of College Student Development, 36,pp.368- 373.
6. Do D.Q.(2007), Depression and among the rt year
medical students in univercity of medicine and pharmacy
Ho Chi Minh city, Viet Nam,College of public Health
sciences, Chulalongkorn University.
7. Dyrbre L.N., Thomas M.R. Shanafelt T.D. (2006),
Systemac review of depression, anxiety, and other
indicators of psychological distress among U.S and
Canadian medical students” Acad Med, 81(4),pp.354-73
8. Elzubeir M. A., Elzubeir K. E., Magzoub M. E. (2011),
Stress and cping strategies among Arab medical studens:
towards a research agenda”, Educ Health(Abingdon),
23(1), pp.355
9. Nguyen V. H., Laohasiriwon W., Saengsuwan J.,
et al. (2014), The relaonships between the use of
self-regulated learning strategies and depression among
medical students: an accerlerated prospecve cohort
study”, Psychol Health Med, 20 (1),pp.59-70
10. Nguyen V. H., Wongsa L (2013), The eect of
stress on academic achievement among preclinical
students at Hue University of medicine anh Pharmacy,
Vietnam: a pilot study” Journal of Medicine and
Pharmacy, 3, pp.64-68
11. Lazarus, R (1993). Coping theory and research:
Past, present, and future, Psychosomac medicine, 55, pp
234-247
12. Lovibond S. H., Lovibind P. F. (1995), Manual
for Depression Anxiety & Stress Scale (Second edion),
Psychology Foundaon
13. Tran Q. A., Dunne M. P., Luu N. H. (2014), “Well
being, depression and suicidal ideaon among medical
students throughout Vietnam”, Vietnam Journal of
Medicine and Pharmacy,6(3),pp23-30.
14. UNICEF Việt Nam (2011). Sức khỏe tâm thần
tâm xã hội của trẻ em thanh niên tại một số tỉnh và
thành phố ở Việt Nam.